Chiến lược đổi mới của VN cần tập trung vào việc phổ biến và áp dụng các công nghệ mới

Năng lực đổi mới của đất nước, so với các nước đồng cấp về cấu trúc và khu vực và nhóm quốc gia đầy khát vọng, vẫn còn nhiều cơ hội để cải thiện.

Theo Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017-2018, Việt Nam đứng thứ 55 trong số 137 quốc gia, sau Singapore (thứ 3), Malaysia (thứ 23), Trung Quốc (thứ 27) và Indonesia (thứ 36) và chỉ sau Philippines (thứ 56).

Mặc dù Việt Nam đã thành công trong việc mở rộng và đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, nhưng việc chuyển đổi cơ cấu theo hướng sản xuất công nghệ cao và thâm dụng tri thức hơn còn chậm so với các nước cùng ngành. Năm 2016, Việt Nam xếp thứ 95 trong Chỉ số Phức tạp Kinh tế (ECI), trong khi Trung Quốc đứng thứ 18.

Theo báo cáo, các doanh nghiệp Việt Nam cho thấy mức độ đổi mới thấp hơn những gì được mong đợi đối với trình độ phát triển của đất nước, đặc biệt là về đổi mới sản phẩm hoặc quy trình. Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam đổi mới nhiều hơn các công ty ở Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ nhưng ít hơn các công ty ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore và Philippines, họ đi sau tất cả các công ty cùng ngành về đổi mới sản phẩm triệt để. Ít doanh nghiệp ở Việt Nam (53% số nhà đổi mới sản phẩm) cho biết đổi mới chính của họ là mới đối với thị trường của họ, so với Malaysia (75%), Philippines (62%) và Thái Lan (86%).

Một mô hình tương tự có thể được quan sát thấy giữa các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất, một trong những trụ cột kinh tế quan trọng nhất của đất nước. Trong một cuộc khảo sát gần đây do Cơ quan Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NASATI) thực hiện, chỉ có 49% doanh nghiệp báo cáo đổi mới về sản phẩm hoặc quy trình.

Trong khi các doanh nghiệp lớn hơn và liên doanh ở Việt Nam có nhiều khả năng thực hiện đổi mới sản phẩm hơn các doanh nghiệp nhỏ hơn và trong nước, họ không có nhiều khả năng thực hiện đổi mới sản phẩm cấp tiến (mới ra thị trường) hoặc đổi mới quy trình. Về mặt cân bằng, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ ít có khả năng thực hiện đổi mới so với các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất.

Advertisement

Khi Việt Nam tìm cách đạt được mức thu nhập cao vào năm 2035, xu hướng toàn cầu về tự động hóa, tập trung xuất khẩu và dịch vụ hóa đưa ra những cơ hội và thách thức mới đối với mô hình tăng trưởng sản xuất tập trung vào xuất khẩu của đất nước. Đất nước không thể trông chờ vào các nhiệm vụ kém đổi mới hơn để có một con đường dễ tiếp cận để tiếp tục phát triển nhanh chóng. Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và tự động hóa, các lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu chính của Việt Nam vốn thường được đặc thù là thâm dụng lao động có thể sớm rơi vào thế bất lợi.

Để giải quyết các vấn đề nêu trên, báo cáo đã đưa ra một số khuyến nghị cho các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp của đất nước, trong đó tập trung mạnh vào việc áp dụng công nghệ mới trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Chính phủ phải đóng một vai trò tích cực trong việc thúc đẩy công nghệ và đổi mới cũng như khuyến khích các hoạt động kinh doanh và tài chính đổi mới thông qua một quy trình đơn giản hóa và hợp lý hóa để hỗ trợ doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp phải tìm cách thu hút lao động có tay nghề cao, đặc biệt là lao động Việt Nam từ nước ngoài và nâng cao trình độ quản lý để đổi mới thông qua mạng lưới hiệp hội doanh nghiệp.

Một số giải pháp dài hạn để hỗ trợ phát triển STI của đất nước bao gồm hợp tác khu vực công-tư mạnh mẽ hơn, tăng cường phân bổ nguồn lực cho các công cụ để tạo điều kiện cho việc áp dụng công nghệ, cũng như tăng cường năng lực tổng thể của hệ thống bảo vệ Quyền sở hữu trí tuệ để thực thi bản quyền bảo hộ bằng sáng chế và quyền sở hữu công nghiệp.

Theo Bizhub.vn

Advertisement